THÀNH CÔNG VÀ THẤT BẠI - Kì 1

Tác phẩm được viết bởi học giả nổi tiếng cụ Nguyễn Hiến Lê.

Sự lựa nghề là một trong những việc quan trọng vào bực nhất trong đời ta, cho nên nếu đã lỡ lựa lầm thì can đảm và cương quyết thay nghề đi, miễn là trước khi quyết định phải điều tra ra, suy nghĩ cho thực kỹ, đừng có nay nghề này, mai nghề khác mà rồi chẳng tới đâu cả: đá mà lăn hoài thì rêu nào mà bám vào nó được?

Nghề thì rất nhiều, nhưng có thể phân làm hai hạng lớn: làm công (công chức hay tư chức) và làm nghề tự do.

Nghề công chức là một nghề cao quý phục vụ nhân dân, tổ quốc một cách đắc lực: một công chức cao cấp có thể tiết kiệm hoặc làm lợi cho quốc gia hằng triệu bác một năm, có thể làm vẻ vang cho đồng bào. Nghề đó lại yên ổn, vững vàng, tuổi già được bảo đảm: ở một nước như nước mình, nó còn tương đối nhà nhã, lương hậu và được trọng vọng. Nhưng tôi vẫn thích một nghề tự do. Tôi đã làm công chức trên mười năm lại làm hai nghề tự do trên 10 năm nữa, nên có đủ kinh nghiệm để so sánh. Trừ những nhân viên cao cấp (vào hàng giám đốc trở lên) có tài năng mới dám lãnh trách nhiệm, thi thố sáng kiến còn thì đại đa số công chức dễ biến thành một người máy - tôi nói dễ biến thành người máy chứ không nói là một người máy.

Trước hết, ở nước nào cũng vậy chứ không riêng ở nước mình, công sở bao giờ cũng bị thủ tục chi phối rất nặng: thủ tục phòng này, sở này liên đới với thủ tục phòng khác, sở khác, chằng chịt với nhau; cho nên mười lần có sáng kiến muốn sửa đổi một tình trạng thì chín lần phải bó tay. Lại thêm tâm lý đa số công chức là muốn được yên thân, nếu cải thiện công việc mà thành thì công quy và cả vào người trên, không thành thì lỗi quy cả về mình; việc sở chạy hay không thì hai ba năm cũng lên lương, mà mỗi lần lên chẳng được bao, không bằng thêm một đứa con; vì vậy chẳng ai muốn bày việc ra làm gì cả.

Huống hồ thời nào cũng có thể có những cách mờ ám để thăng chức công hiệu hơn sự ngay thẳng và tận tâm. Cái tệ đó cũng là nhụt tinh thần của công chức. Rốt cục người công chức không khác gì một bánh xe nhỏ trong một cái máy vĩ đại, lần lần mất nghị lực, gần như mất cả cá tính nữa, thành một kẻ vô danh trong cái đám người mênh mông mà người Pháp gọi là “ronds de cuir” (từ này mình không biết, bạn nào biết bình luận giúp mình). Tất nhiên tôi chỉ xét về phần đông, chứ trong sở nào cũng có một vài người lỗi lạc sáng suốt, can đảm lãnh trách nhiệm, hy sinh cho quốc gia và không vị lợi.

.

Làm nghề tự do cực khổ hơn nhiều, bấp bênh hơn nhiều nhưng cũng thú hơn nhiều. Nói là tự do chứ sự thực người ta còn bị bó buộc hơn một công chức nữa. Một công chức có thể tan giờ là về, công việc để hôm sau làm tiếp, đau yếu thì được nghỉ, công việc giao cho người khác làm thay; làm nghề tự do thì không được vậy: đã đến giờ đóng cửa tiệm mà có khách hàng thì phải thức khuya hay dạy sớm; hễ đau yếu mà còn tỉnh táo thì còn phải suy tính, cắt đặt công việc. Chỉ được một điều là tự mình bó buộc mình chứ không bị một chỉ thị nào chi phối cả. Làm việc thì mệt gấp ba gấp bốn một công chức, mà lợi tức có khi không bõ với công lao, có lúc lại lỗ cả công lẫn của nữa.

Nhưng cũng có khi lời rất nhiều; và cái thú nhất là được lãnh hết trách nhiệm về mình, tha hồ có sáng kiến, được trông thấy kết quả công việc mình làm, thấy rằng mình hoàn toàn tạo tương lai cho mình, hoàn toàn làm chủ mình, bao nhiêu khả năng của mình đều có thể phát triển đến cực độ. Vì những lý do đó, tôi nghĩ rằng không có gì luyện chí khí, tư cách, trí não của ta bằng một nghề tự do; và nếu bạn thấy chán công việc sở của bạn thì đừng do dự gì hết, bỏ quách nó đi.

Nhiều người ngại ngùng, không biết rằng rời cái vú của “bà mẹ chính phủ”, rồi thì tương lai sẽ bấp bênh ra sao, rồi sẽ phải vất vả ra sao, không chừng ăn bữa sáng lại còn phải lo bữa tối đấy. Nhưng tôi tin rằng một thanh niên khỏe mạnh có chí, có một sức học phổ thông, có một nghề trong tay, thì không khi nào chết đói và hết thảy chúng ta sớm muộn gì cũng được hưởng cái mà ta đáng được hưởng và chỉ được hưởng cái mà ta đáng được hưởng thôi. Có thể rằng bạn sẽ long đong trong mười năm như Somerset Maugham, có hồi phải chịu đói chịu rét nhưng cứ bền chí thế nào bạn cũng sẽ thành công đó sẽ dư để đền bù những năm vất vả.

Chắc một số người sẽ buộc tội tôi là tuyên truyền cho công chức bỏ sở ra ngoài sinh nhai. Cũng may là lịch sử nhân loại chưa hề ghi một cuộc “đảo sở” đại qui mô nào của công chức; một người ra thì cả chục, cả trăm người khác chực sẵn để nhào vô, cho nên công sở chỉ luôn luôn đặc nghẹt chứ không bao giờ vắng người và lời buộc tội tôi sẽ không đứng vững. Tôi chỉ theo gương cựu Tổng Thống Mỹ Eisenhower khuyên thanh niên đừng an phận, mà chịu mạo hiểm, làm những việc kinh doanh có lợi cho sự rèn luyện khả năng cùng nhân cách của họ, vậy mới có lợi nhiều cho quốc gia.

.

Trong cuốn The Power Of Positive Living, ông Douglas Lurton kể chuyện rằng năm 1949, tạp chí Fortune làm một cuộc điều tra và thấy rằng 98 phần 100 sinh viên ở Mỹ ngại mạo hiểm, chỉ mong có một làm yên thân. Những thanh niên đó đa số đã bận quân phục, (1) đã can đảm chống với xe tăng đại bác mà tuyên bố rằng họ chỉ ghét mỗi một điều, nhất định không chịu một điều là mạo hiểm. Chỉ có 2% là muốn ra kinh doanh lấy, còn 98% kia chỉ cầu làm trong một sở, một hàng lớn nào đó rồi về già có chút tiền dưỡng lão, nghĩa là chỉ cầu được “yên ổn trước hết”. - Chú giải (1): Hồi đó thế chiến mới chấm dứt được bốn năm, nhiều thanh niên mãn quân dịch vô các trường đại học tiếp tục học, mặc dầu đã có gia đình.
Trước tình trạng bi đát đó, Eisenhower lo ngại cho tiền đồ nước Mỹ và tuyên bố trước sinh viên đại học trường Columbia: “Trong cái thời mà biết bao người nói đến sự yên ổn này, yên ổn trong mọi việc, miễn sao cho khỏi bị lạnh, bị mưa, hoặc bị đói khát, tôi phải bảo cho các bạn biết rằng nếu muốn thực hiện một hoài bão gì mà đòi được hoàn toàn yên ổn tức là các bạn đã lầm đường rồi đấy. Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng loài người không còn tiếp tục tồn tại được nếu đã có sự hoàn toàn yên ổn. Đời sống chỉ đáng sống khi nào nó cần sự chiến đấu cho những mục đích cao cả, và trong sự chiến đấu không khi nào có sự yên ổn hoàn toàn”. Tóm lại ông khuyên sinh viên phải bỏ cái lý tưởng làm công chức ba cọc ba đồng, về già có lương hưu trí đi, để mạo hiểm kinh doanh, có chịu đói chịu rét trong ít năm rồi tư cách, tài năng mới tăng tiến

Nhưng nếu vì một lý do cao cả nào đó bạn vẫn thích cái đời công chức yên ổn thì tôi rất tôn trọng ý kiến của bạn. Bạn cứ làm một công chức cần mẫn, lương thiện. Tôi chỉ xin nhắc bạn điều này: dù làm công chức hay một nghề tự do, thì cũng phải làm cho đắc lực. Từ đầu thế kỷ, một phần vì sự tranh đấu để sinh tồn mỗi ngày một gay go, một phần vì khoa tâm lý thực hình đã tiến được những bước vững vàng, nên loại sách dạy cách tu luyện để thành công ở u Mỹ xuất bản rất nhiều. Mỗi tác giả do kinh nghiệm của bản thân nhấn mạnh vào đức này hay đức khác. Chẳng hạn Dale Carnegie, một nhà kinh doanh có tài diễn thuyết, nhấn vào đức đắc nhân tâm và tài thuyết phục quần chúng, tức tài ăn nói. Arnold Bennett, một tiểu thuyết gia kiêm triết gia, chú trọng đến sự tự học, Gordon Byron khuyên nên tự tín; Frank Bettger khuyên có nhiệt huyết. Vô số tác giả khác chỉ cho ta những cách luyện đức tự chủ, đức kiên nhẫn, tài chỉ huy, luyện ký tính, sự tập trung tư tưởng, sự tập trung hoạt động vào một mục đích,.... Tất cả những tác giả đó đều có lý vì sự thành công đòi hỏi nhiều tài đức. Tất nhiên không ai có đủ các tài đức tôi mới kể sơ ở trên; nhưng ít nhất cũng phải có vài ba chỗ hơn người, rồi biết những sở đoản của mình để bồi bổ bằng cách tu luyện hoặc tìm những người cộng sự có những đức mà mình thiếu, thì mới có thể thành công lớn được. Vậy bạn nên tìm đọc những sách đó, trong mười cuốn thế nào cũng gặp được một cuốn đúng với trường hợp của mình, nhấn mạnh vào những tài đức mà bạn thiếu.

.

Ở đây tôi không làm cái công việc vô ý thức là tập hợp lại những lời khuyên của tác giả đó, chỉ xin đem ít kinh nghiệm bản thân để giúp bạn có một thái độ đàng hoàng khi bắt tay vào việc. Một văn sĩ Pháp mà tôi quên mất tiên nói rằng chỉ có mỗi một cái nghề ti tiện là cái nghề mà người ta làm với mục đích duy nhất là để kiếm tiền. Lời đó thật chí lý. Nghề nào cũng có thể là cao cả được nết ta yêu mến nó, tìm cách cải thiện nó để phụng sự người khác và đồng thời luyện những khả năng của ta. Và nghề nào dù bản chất cao cả tới mấy mà ta miễn cưỡng làm chỉ để kiếm tiền thì cũng thành một người ti tiện vì nó làm cho ta hóa ra ti tiện.

Tất nhiên ai cũng phải lo kiếm tiền để nuôi thân và nuôi gia đình.Trước khi làm ột việc gì bạn có quyền và bổn phận đòi hỏi một số lương xứng đáng, hoặc tính phỏng xem cái số lợi, có bõ công không; nhưng một khi đã làm thì phải yêu công việc, tìm cách cải thiện nó để nó có ích thêm cho người khác. Đáng ghét là những kẻ so đo: “Người ta trả mình có bấy nhiêu, thì mình làm như vậy là vừa rồi; gắng sức nữa chỉ là thiệt”. Hoặc: “Mỗi ngày mình có bổn phận làm tám giờ, chỉ biết tám giờ là hết bổn phận; việc gấp ư? Cần làm thêm giờ ư? Thì trả thêm đi”. Những kẻ đó không khi nào khá được vì họ không biết hy sinh: họ sẽ khổ sở vì không biết yêu công việc, cho nó là một món nợ phải trả, trả ít chừng nào hay chừng đó.

.

Trước thế chiến vừa rồi, trong lúc kinh tế còn khủng hoảng một thanh niên đã học năm thứ nhì ban cao đẳng tiểu học lại xin một chân lao công xách máy để đi đo đường. Thời đó, có sức học đó có thể làm thư ký lương gấp ba lương lao công được. Tôi thấy em đó có chí, cho vô làm; em ấy chịu cực khổ như những lao công khác, nên tôi đem lòng mến, chỉ nghề cho và ba tháng sau giới thiệu em vô làm thư ký trong sở của tôi.
Mới đây có một thanh niên khác đương học ban tú tài xin việc tôi. Thực ra tôi không có việc gì để giao cả, nhưng thương tình, nhờ sử ấn cảo giùm tôi để đợi có cơ hội tôi sẽ giới thiệu với một nhà in; tiền thù lao không phải là thấp, nhưng em cho rằng công việc đó không xứng với sự học của mình, làm một cách miễn cưỡng; một tháng sau tôi phải cho em nghỉ việc.

Chúng ta phải tập cái đức: biết làm không công. Jack London, Somerset Maugham đều đã chịu làm không công: họ tập viết văn, trong mười năm bán tác phẩm không được, tiền nhuận bút không đủ để ăn sáng. Frank Woolworth một nhà tỉ phú ở Mỹ hồi trẻ cũng đã chịu làm không công trong ba tháng cho một tiệm bán đồ trang sức, rồi cả một năm sau, làm chật vật suốt ngày mà kiếm được chỉ khoảng hai đồng rưỡi một ngày, cũng gần như không công nữa. Nhưng chính những năm làm không công đó lại là những năm có lợi nhất cho họ vì nó cho họ nhiều kinh nghiệm nhất để sau này thành công. Trong xoài phải sáu bảy năm mới có trái, trồng chuối cũng phải một năm mới có trái. Những kẻ không chịu làm không công thì rất khó mà được hưởng sự thành công.

Một thanh niên khá thông minh, đậu tú tài vào hàng bình thứ, muốn xin du học ngoại quốc, lại hỏi tôi nên lựa chọn trường nào. Tôi chưa cho em cuốn Carrieres pour les jeunes gens (loại Guides Neret của nhà Lamarre Paris) để em lựa. Hôm sau em đem lại trả tôi, bảo đã lựa một trường kỹ sư ở Nantes. Tôi hỏi tại sao. Em ấy đáp là vì trường đó, có bằng tú tài toán hạng bình thứ thì được vô khỏi phải thi. Tôi khuyên em lựa chọn một trường khác cũng dạy nghề đó, nhưng cao hơn; vì nên tìm cái khó chứ đừng tìm cái dễ; rồi đưa em đọc bài Jamais il n'a cherché La facilité của Virginia Gordon trong tạp chí Sélection du Reader's Digest số Aout 1956. Bài kể chuyện một em nhỏ sáu tuổi bị chứng tê liệt mà đòi đi học như những trẻ khác, phải bò từ cửa lớp tới bàn học, mà rán tập đọc tập viết, làm cho từ cô giáo đến bạn bè phải thán phục, sau lên tới trung học, theo kịp các bạn chứ không kém ai.

William James, nhà tâm lý trứ danh ở Mỹ bảo chúng ta có rất nhiều khả năng mà chính chúng ta không ngờ; phần đông chỉ dùng tới khoảng một phần mười khả năng của mình thôi. Lựa một công việc khó, tự đặt mình và những hoàn cảnh khó khăn tức là tự cho mình cơ hội để tận dụng khả năng của mình.

Sở dĩ tôi không ưa nghề công chức một phần vì cái nghề đó dễ dàng, ít bắt ta phải gắng sức. Suốt năm, suốt đời làm hoại một công việc nào đó, đúng với những thủ tục nào đó, riết rồi người ta không cần phải suy nghĩ nữa. Nếu phải làm công chức bạn nên xin với cấp trên giao cho bạn những việc mỗi ngày một khó hơn, không được thì nên từ chức. Nhưng ngay trong những nghề tự do, người ta cũng dễ mắc cái thói ưa dễ: hễ đã thành công trong một việc nào rồi thì tiếp tục hoài công việc đó không chịu tìm một việc khác. Như vậy thì làm sao mà tiến được?

.

Bạn có thể ăn rồi ngủ, dạo phố, kiếm bạn tán gẫu suốt tháng; và không có gì đáng trách cả vì có khi bạn cần nghỉ ngơi lâu hoặc nếu chưa kiếm được việc gì nên làm thì bạn có quyền không làm; nhưng một khi đã làm thì phải làm đến nơi đến chốn. Nhà tôi có đặt hai vòi nước thấp để cho các em nhỏ với tới và cũng để mùa nắng, nước yếu không lên cao được thì hứng ở những vòi đo: Cứ thỉnh thoảng tôi phải đi kiểm soát xem những vòi đó khóa có kỹ không, và nhiều khi tôi phải khóa lại. Không phải chỉ có em nhỏ lơ đễnh, ngay cả những người ba bốn chục tuổi mà khóa vòi nước cũng không kỹ. Họ ngỏ đi đâu đấy, vặn vài vòng rồi bỏ đi, không cần biết nước tồn dỉ ra hay không. Thật lạ lùng. Tôi không hiểu tại sao bản tính của họ hay tại họ thiếu sự dậy dỗ.

Thời này tật đó là tật chung đa số công nhân. Khó kiếm được một người thợ sửa vòi nước một ống máng một lần mà song, chỉ được ít hôm lại phải gọi sửa lại. Cạo tường để quét vôi thì mười người có tới chín người phải có chủ đứng coi ở bên. Tôi còn nghe nói trong một cuộc khánh thành, một quan khách thấy một dẫy cây mới trồng liền lắc thử một cây thì nhổ tuột lên một cách rất dễ dàng: cây chỉ có gốc mà không có rễ. Hình như giới trí thức cũng vậy. Ai nấy làm cho qua loa, xong chuyện, có khi làm nửa chừng rồi bỏ, không theo dõi cho tới cùng. Gởi đơn xin việc ư? Đơn bỏ vào thùng thư là xong, không cần biết nó có tới nơi hay không, kết quả ra sao. Đợi lâu quá, không thấy gì lúc đó mới đi hỏi thư đã lạc đâu mất rồi. Tài liệu dùng xong, nhét bậy vào chỗ nào đó, không cần trả về chỗ cũ. Người ta quen ăn xổi ở thì, được ngày nào hay ngày đó, không tính chuyện lâu dài. Có phải tại cái không khí thời loạn từ sau thế chiến, cái thời mà tương lai không có gì bảo đảm, làm cho người ta có tinh thần đó không?
Nhưng cũng có một số rất ít người cẩn thận quá hóa ra tỉ mỉ, tốn công vô ích. Họ nắn nốt từng nét để “vẽ” tên một cuốn sổ kế toán hay thông tư; đo một cái nhà để họa bản đồ mà họ đếm cả từng li; giữ sổ chi tiêu thì họ ghi và cộng cả từng cắt; mở một gói đồ, họ bỏ ra năm mười phút để gỡ từng mối dây chứ không chịu dùng dao để cắt,... Thái quá cũng như bất cập đều không nên. Ta phải biết tùy từng công việc mà làm kỹ lưỡng tới một mức nào cho không hỏng việc mà cũng đừng tốn thì giờ vô ích. Nếu là một công trình nghệ thuật thì càng kỹ càng quý, nếu là một công việc thường, có tính cách tạm thời hay phỏng chừng thì kỹ quá chỉ là uổng công. Hiểu được mục đích ra sao rồi tính trước cách làm cho đỡ phí sức, phí công, như vậy vợi mới là biết làm việc một cách đắc lực.

Tôi không hiểu tại sao trong số mấy trăm bài tập đọc ở ban tiểu học tôi chỉ còn nhớ được năm sáu bài mà nhớ kỹ, mặc dầu đã cách bốn chục năm. Một trong những bài đó khuyên chúng tôi đừng để lại ngày mai việc gì có thể làm được hôm nay. Tác giả kể chuyện một người nhà quê đi thăm vườn cam thấy nhiều gốc có sâu, không bắt sâu ngay, tự hẹn hôm sau sẽ làm công việc đó. Hôm sau chú ta đau, phải nghỉ vài bữa, đến lúc khỏi thì có đám giỗ, xong đám giỗ thì có cơn dông, rồi tới công việc gấp khác, nên quên hẳn công việc bắt sâu, nửa tháng sau mới trở lại vườn cam thì cây nào cây nấy cũng héo rũ cả rồi. Hồi nhỏ tôi đã cho truyện đó là truyện bịa, tác giả tưởng tượng ra tất cả các biến cố để hoãn lại cái ngày trừ sâu, nên tôi không tin. Giá tác giả chỉ kể rằng người nhà quê định hôm sau bắt sâu rồi có công việc khác, quên bẵng đi, nửa tháng sau mới sực nhớ ra thì tôi dễ tin hơn. Mới hay muốn giảng luân lý, dù là cho trẻ con, cũng cần đúng sự thực.
Vậy nghệ thuật bài đó kém, nhưng lời khuyên thì thực có giá trị. Càng sống tôi càng thấy những người thành công thường có cái đức: làm ngay, không để tới ngày mai. Xin bạn đừng hiểu lầm tôi. Tôi vẫn biết có những việc không nên giải quyết vội; cứ để trong một thời gian, trí óc bình tĩnh, ta thu thập thêm đủ tài liệu rồi sẽ giải quyết. Lại có những việc mới coi tưởng như quan trọng, nhưng để ít lâu, hoàn cảnh thay đổi rồi, khỏi phải giải quyết nữa. Trong những trường đó không nên hấp tấp mà lỡ việc.

.

Nhưng việc gì đã cho là nên làm, đã quyết định thế nào cũng làm, thì nếu có thể được, nên làm ngay đi, đừng trì hoãn. Trì hoãn thường lỡ cơ hội mà dù không bỏ lỡ cơ hội thì thói trì hoãn cũng có hại nó gậm nhấm lần nghị lực, chí quyết đoán của ta. Vả lại tập tánh làm ngay việc gì có thể làm được thì mới luyện được đức sẵn sàng rất cần thiết cho sự thành công. Trong đời người, ai cũng có một vài lần gặp được cơ hội may. Người nào đã dự bị sẵn sàng để nắm lấy nó thì sẽ thành công; không sẵn sàng để cho nó trôi qua thì không biết bao giờ mới trở lại nữa.
Đọc tiểu sử Mustapha Kémal ta thấy cái tài của ông là dự bị từ lâu để hễ cơ hội tới là nắm lấy nó liền. Sau đại chiến thứ nhất, một mặt ông phải chống với hoàng gia, một mặt phải chống với các cường quốc Châu u. Ông nhóm hợp một số sĩ quan cùng chí hướng, thành lập quốc hội rồi khi vua Méhemet VI chịu nhận những điều kiện nhục nhã của Anh, Pháp, Ý làm cho toàn Thổ ghét đế quốc tham tàn, nay lại ghét cả hoàng gia nữa, ông đứng ra phất hồng kỳ và toàn dân theo ông ngay. Rồi trong chiến tranh với Hy Lạp, quân lực Thổ kém quân lực Hy, nhưng lần nào ông cũng định rõ chiến thuật, xuất kỳ bất ý, tấn công ồ ạt, làm cho quân Hy trở tay không kịp, thua to ở khắp các mặt trận. Khi lên cầm quyền đương lúc được quốc dân sùng bái, ông hăng hái duy tân để theo kịp Âu Mỹ, thi hành ngay những cải cách mạnh bạo, làm cho Thổ chỉ trong mười mấy năm, có một bộ luật mới, một chính thể mới, một văn tự mới, một lịch mới, những đồ đo lường mới, một nền kỹ nghệ và canh nông mới, nhất là một chế độ mới cho phụ nữ.

Muốn cho lúc nào cũng sẵn sàng thì phải biết nhìn xa, tính trước. Những nhân viên hay dùng con dấu: Khẩn, Tối Khẩn là những người không biết làm việc. Nếu biết tính trước và dự bị sẵn sàng thì không có việc gì là tối khẩn. Một cây sao ở trước nhà tôi khô đã hai năm, tôi nhắc người ta mà người ta không chịu đốn. Rồi tới mùa dông bão, một cành khô gẫy, suýt gây ra tai nạn, thì người ta ra lệnh tối khẩn kêu người đốn
Tôi thấy những quốc gia đại sự mà đôi khi cũng giải quyết theo lối gốc sao đó. Chẳng hạn Bộ quốc gia giáo dục, chín mười năm trước, khi dùng Việt ngữ làm chuyển ngữ ở bậc trung học thì phải tính trước làm sao đào tạo kịp trong bảy năm một số giáo sư đại học dạy bằng tiếng Việt được. Nhưng chỉ vì bộ không chuẩn bị trước nên khi học sinh theo chương trình Việt lên tới đại học vẫn gặp giáo sư ngoại quốc nghe giảng bài như vịt nghe sấm vậy. Lúc thấy sinh viên họ kêu ca quá, quốc dân kêu ca quá. Bộ mới triệu tập các giáo sư đại học để giải quyết vấn đề. Đó chỉ là một thí dụ trong hằng chục thí dụ khác. Vậy, theo tôi muốn thành công trong việc làm, cần có thái độ dưới đây:

10 - Biết đôi khi làm không thành công
20 - Tìm cái khó, đừng tìm cái dễ
30 - không làm thì thôi, đã làm thì phải làm cho đến nơi đến chốn, nhưng đừng quá tỉ mỉ
40 - Việc gì có thể làm ngay thì đừng trì hoãn
50 - Lúc nào cũng phải sẵn sàng.

- Còn tiếp 1 kỳ -
Bách khoa số 119 tháng 12 năm 1961.
 
Top